CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ
ART CARE
Giỏ hàng của bạn
Giỏ hàng :
Tổng tiền :
0
0
Xem giỏ hàng
Đối tác

Các bệnh trong chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia


1. BỆNH BẠCH HẦU
1.1 Bệnh bạch hầu là gì?
Bệnh bạch hầu là một bệnh nhiễm trùng nhiễm độc do vi khuẩn bạch hầu gây ra. Trực khuẩn bạch hầu tiết ra độc tố gây tổn thương nhiều tổ chức và cơ quan của cơ thể. Có 2 thể bệnh bạch hầu hay gặp: bạch hầu họng và bạch hầu thanh quản. Ở vùng nhiệt đới có thể gặp bạch hầu mũi, mắt, da.
Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường xảy ra ở những trẻ không được tiêm chủng. Ở vùng khí hậu nhiệt đới bệnh thường gặp trong những tháng lạnh. Trong năm 2000 có khoảng 30.000 trường hợp mắc và 3000 trường hợp chết do bạch hầu đã được báo cáo trên toàn thế giới.
1.2 Bệnh bạch hầu lây truyền như thế nào?
Bệnh bạch hầu lây truyền từ người bệnh sang người lành qua đường hô hấp và tiếp xúc trực tiếp. Nó có thể gây nhiễm trùng mũi họng dẫn đến khó thở và tử vong.
1.3 Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh là gì?
Bạch hầu thể họng, triệu chứng sớm nhất là viêm họng, chán ăn và sốt nhẹ. Trong vòng 2-3 ngày giả mạc trắng có màu ngà ở trong họng và lưỡi. Giả mạc bạch hầu có đặc điểm là dai, dính và dễ chảy máu nếu bóc giả mạc. Nếu có chảy máu, giả mạc có thể màu xám hoặc đen. Bệnh nhân có thể qua khỏi hoặc trở nên trầm trọng và tử vong trong vòng 6 – 10 ngày. Bệnh nặng không có biểu hiện sốt cao nhưng có thể sưng cổ và làm hẹp đường thở.
1.4 Biến chứng của bệnh là gì?
Trong giai đoạn sớm của bệnh hoặc những tuần sau đó, bệnh nhân có thể bị rối loạn nhịp tim có thể gây suy tim. Một vài bệnh nhân bị viêm cơ tim và van tim sau nhiều năm bị bệnh tim mãn và suy tim. Biến chứng nguy hiểm nhất của bạch hầu là tắc nghẽn đường hô hấp và gây tử vong.
1.5 Điều trị bệnh bạch hầu như thế nào?  
Những trường hợp nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu cần tiêm huyết thanh kháng độc tố bạch hầu và dùng kháng sinh như erythromycin hoặc penicillin và cần cách ly tránh lan truyền bệnh sang người khác. Cần nuôi cấy dịch họng để chẩn đoán. Bệnh nhân sẽ không còn khả năng lây lan sau 2 ngày điều trị kháng sinh thích hợp.
Để chẩn đoán xác định cần nuôi cấy bệnh phẩm từ họng của các trường hợp nghi ngờ. Tuy nhiên, cần bắt đầu điều trị ngay mà không đợi kết quả nuôi cấy.
1.6 Phòng bệnh bạch hầu như thế nào?
Cách hiệu quả nhất để phòng bệnh bạch hầu là duy trì tỷ lệ tiêm chủng cao trong cộng đồng. Ở hầu hết các nước, vắc xin giải độc tố bạch hầu được tiêm cùng với vắc xin ho gà và giải độc tố uốn ván ( vắc xin BH – HG - UV). Gần đây một số nước đã sử dụng vắc xin phối hợp gồm vắc xin bạch hầu, uốn ván, ho gà, viêm gan B và đôi khi cả vắc xin Hib.
Sau mỗi khoảng thời gian 10 năm, cần tiêm nhắc lại vắc xin loại dùng cho người lớn là giải độc tố uốn ván - bạch hầu (Td) để duy trì khả năng miễn dịch.

           2. BỆNH SỞI
           2.1 Bệnh sởi là gì?
           Bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm dễ lây do vi rút gây ra. Trong năm 2001, ước tính khoảng 30 triệu trường hợp mắc sởi trên thế giới và 745.000 trường hợp tử vong có liên quan tới bệnh sởi. Bệnh sởi gây tử vong cao hơn so với các bệnh khác trong chương trình TCMR.
           Là bệnh rất dễ lây có xu hướng xảy ra dịch và là nguyên nhân của nhiều trường hợp tử vong đặc biệt ở trẻ suy dinh dưỡng.
2.2 Bệnh sởi lây truyền như thế nào?
           Bệnh sởi lây truyền qua đường hô hấp trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua những giọt nhỏ nước bọt do người bệnh thải ra khi ho hoặc hắt hơi. Người bệnh có thể lây cho người khác trước và sau vài ngày xuất hiện triệu chứng của bệnh. Bệnh rất dễ lây truyền ở những nơi tập trung nhiều trẻ em. Ví dụ ở các cơ sở y tế và trường học.
2.3 Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh là gì?
Biểu hiện đầu tiên là sốt cao, xuất hiện vào khoảng ngày 10-12 sau khi tiếp xúc với người bệnh và kéo dài vài ngày. Trong giai đoạn này có thể chảy nước mũi, ho, mắt đỏ, chảy nước mắt và xuất hiện những nốt trắng nhỏ bên trong má (nốt Koplick).
Sau vài ngày xuất hiện ban nhỏ, bắt đầu từ mặt, phía trên cổ. Trong thời gian khoảng 3 ngày, ban lan xuống thân thể, sau đó tới tay và chân. Ban kéo dài 5-6 ngày rồi bay dần để lại những vết thâm. Giai đoạn ủ bệnh từ khi tiếp xúc với người bệnh cho đến khi xuất hiện ban trung bình khoảng 14 ngày, dao động trong khoảng 7 đến 18 ngày.
2.4 Biến chứng của bệnh là gì?
Trẻ dưới 5 tuổi đặc biệt là trẻ nhỏ nếu không tiêm vắc xin sởi rất dễ mắc bệnh sởi và có nhiều biến chứng. Trẻ mắc sởi có thể bị tiêu chảy mất nước nặng, viêm tai giữa và nhiễm trùng đường hô hấp nặng và có thể tử vong.Viêm phổi là nguyên nhân thông thường nhất gây tử vong liên quan tới sởi. Điều này thường xảy ra vì vi rút sởi làm suy yếu hệ miễn dịch. Viêm phổi có thể do chính vi rút sởi hoặc do các vi khuẩn bội nhiễm. Viêm não là một biến chứng nguy hiểm.

Sởi nặng thường gặp ở trẻ nuôi dưỡng kém, nhất là ở trẻ không được uống Vitamin A hoặc sống trong điều kiện đông đúc và có hệ miễn dịch giảm do AIDS hoặc các bệnh khác. Sởi là nguyên nhân chính gây mù ở trẻ em Châu Phi và các nơi khác trên thế giới nơi có bệnh sởi lưu hành.Sau khi khỏi, người bệnh thường có miễn dịch đặc hiệu suốt đời.
2.5 Điều trị bệnh sởi như thế nào?
Tăng cường dinh dưỡng và điều trị mất nước bằng đường uống là cần thiết. Kháng sinh chỉ cần thiết đối với nhiễm trùng tai và nhiễm trùng đường hô hấp. Điều quan trọng trong bệnh sởi là tăng cường ăn khi mắc sởi và giữ vệ sinh cho trẻ.Tất cả trẻ em ở các nước đang phát triển cần được uống hai liều Vitamin A bổ xung cách nhau 24 giờ. Uống Vitamin A có thể giúp trẻ tránh được mù lòa. Bổ xung Vitamin A có thể làm giảm 50% số chết do sởi.


          
           2.6 Phòng bệnh sởi như thế nào?
           Để phòng bệnh sởi cần tiêm vắc xin sởi. Bệnh sởi lây truyền rất cao; hầu hết trẻ không tiêm chủng nếu tiếp xúc đều bị mắc sởi. Để giảm lây nhiễm trong bệnh viện, tất cả trẻ em từ 6 tháng đến 9 tháng tuổi chưa được tiêm vắc xin sởi nằm viện đều phải tiêm vắc xin sởi. Nếu bố mẹ trẻ không nhớ rõ trẻ đã tiêm sởi hay chưa, trẻ cũng cần được tiêm vắc xin sởi. Nếu trẻ tiêm vắc xin sởi trước 9 tháng tuổi thì cần tiêm liều thứ hai khi trẻ 9 tháng tuổi hoặc ngay sau đó. 
           2.7 Khống chế bệnh sởi toàn cầu
           Tháng 5 năm 2003, Cuộc họp Hội đồng Tổ chức Y tế Thế giới lần thứ 56 ra nghị quyết giảm số chết do sởi 50% vào năm 2005 so với năm 1999.           Các chiến lược được khuyến nghị để giảm số chết do sởi gồm:

·        Tiêm liều đầu tiên vắc xin sởi cho trẻ lúc 9 tháng tuổi hoặc sau đó càng sớm càng tốt trong tiêm chủng thường xuyên. Đây là nền tảng của việc duy trì chiến lược giảm tỷ lệ chết do sởi.

·        Tất cả trẻ em cần tiêm liều thứ hai vắc xin sởi. Điều này sẽ đảm bảo khả năng miễn dịch của những trẻ chưa được tiêm cũng như những trẻ có đáp ứng miễn dịch kém với liều tiêm trước. Mũi sởi thứ hai có thể tiêm trong buổi tiêm chủng thường xuyên hoặc trong chiến dịch.

·     Tăng cường giám sát sởi qua việc lồng ghép với những thông tin dịch tễ học và xét nghiệm.             
              3. BỆNH HO GÀ 
              3.1 Bệnh Ho gà là gì?
              Bệnh ho gà là một bệnh lây truyền đường hô hấp do vi khuẩn có trong miệng, mũi và họng gây ra. Trẻ mắc bệnh này thường ho kéo dài 4 đến 8 tuần. Bệnh đặc biệt nguy hiểm ở trẻ dưới 1 tuổi. Trong năm 2000 ước tính khoảng 39 triệu trường hợp mắc và 297.0000 trường hợp tử vong trên thế giới do ho gà.
3.2 Bệnh ho gà lây truyền như thế nào?
Bệnh lây truyền rất dễ dàng qua đường hô hấp trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua những giọt nhỏ nước bọt do người bệnh thải ra khi ho hoặc hắt hơi. Hầu hết những người tiếp xúc với tác nhân gây bệnh đều bị nhiễm. Ở nhiều nước dịch có chu kỳ từ 3 - 5 năm.
3.3 Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh là gì?
Giai đoạn ủ bệnh từ 5 đến 10 ngày. Lúc đầu trẻ có biểu hiện: ho, chảy nước mũi, nước mắt, hắt hơi, sốt và ho nhẹ. Ho ngày càng nặng, cơn dài và dày hơn. Giai đoạn cuối trẻ thở vào nghe như có tiếng rít. Trẻ có thể bị tím tái do thiếu ô-xy trong cơn ho. Nôn và kiệt sức thường đi kèm theo sau các cơn ho, đặc biệt vào ban đêm.
  Trong giai đoạn hồi phục cơn ho ít dần đi. Thông thường sốt không cao trong suốt thời gian bệnh tiến triển.
 
  3.4 Biến chứng của bệnh là gì?
              Biến chứng thường gặp ở trẻ nhỏ. Viêm phổi là biến chứng thường gặp nhất và dễ gây tử vong. Trẻ có thể bị co giật do sốt hoặc giảm ô-xy cung cấp cho não, việc giảm ô-xy não là do cơn ho hoặc do độc tố của vi khuẩn. Các biến chứng nhẹ hơn là chán ăn, viêm tai giữa và mất nước.
 
  3.5 Điều trị bệnh ho gà như thế nào?
              Điều trị kháng sinh, thông thường là erythromycin có thể làm cho bệnh đỡ nặng hơn. Vì kháng sinh sẽ diệt vi khuẩn ở mũi và họng, nên cũng giảm khả năng lây truyền bệnh sang người khác.  Cần bù dịch để phòng mất nước.3.6 Phòng bệnh ho gà như thế nào?
Tiêm vắc xin ho gà, thường là dạng kết hợp với vắc xin bạch hầu và uốn ván (DPT). Gần đây, một số nước sử dụng vắc xin phối hợp gồm bạch hầu, uốn ván, ho gà, viêm gan B và đôi khi cả Hib nữa.
           
             4. BỆNH BẠI LIỆT POLIO
             4.1 Bệnh bại liệt polio là gì? 
             Là bệnh do vi rút polio gây ra bởi 1 trong 3 vi rút týp 1, 2 hoặc 3. Năm 1988 tổ chức Y tế thế giới đưa ra mục tiêu thanh toán bệnh bại liệt polio, trên phạm vi toàn cầu vào năm 2005. Số trường hợp bại liệt polio báo cáo giảm ước tính từ 350.000 năm 1988 còn 483 trường hợp có liên quan tới vi rút bại liệt hoang dại trong năm 2001. Khu vực Tây Thái Bình Dương (trong đó có Việt Nam) đã thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000.
 
4.2 Bệnh bại liệt polio lây truyền như thế nào?
            Chỉ có một đường lây truyền vi rút polio là qua đường tiêu hóa (phân/miệng). Vi rút vào cơ thể qua thực phẩm hoặc uống nước mang mầm bệnh. Vi rút nhân lên ở ruột, vào máu và có thể xâm nhập và làm tổn thương hoặc phá huỷ tế bào thần kinh tuỷ xám. Vi rút polio lưu hành mạnh ở những vùng vệ sinh môi trường kém.
Bệnh rất dễ lây. Hầu hết trẻ em sống cùng nhà với người mang mầm bệnh bị nhiễm vi rút. Ở người bệnh có khả năng đào thải vi rút từ 10 ngày trước và 10 ngày sau khi triệu chứng đầu tiên của bệnh. Những người lành mang vi rút cũng có thể trở thành nguồn truyền bệnh. Thời gian ủ bệnh từ 6 đến 20 ngày.
 
4.3 Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh là gì?
            Đa số trường hợp trẻ nhiễm vi rút polio không có biểu hiện lâm sàng nhưng để lại miễn dịch đặc hiệu suốt đời. Còn khoảng 5% số trường hợp có biểu hiện giống cảm cúm như: sốt, ỉa lỏng, nhức đầu, đau họng… Cùng với sốt bệnh nhi thường đau ở các chi sắp bị liệt và xuất hiện liệt mềm trong những ngày cuối của tuần đầu tiên. Một số trường hợp có thể liệt cơ hô hấp (liệt thể largdry) gây suy hô hấp và có thể tử vong. Những trường hợp qua khỏi để lại di chứng liệt suốt đời.
            Xét nghiệm phân (phân lập vi rút polio) để chẩn đoán xác định là cần thiết.
           
            4.4 Biến chứng của bệnh là gì? 
            Tử vong có thể xảy ra nếu bị liệt cơ hô hấp và không có máy thở hỗ trợ. Di chứng do liệt không hồi phục suốt đời thường gặp ở những trường hợp không được điều trị hợp lý.
 
            4.5 Điều trị bệnh bại liệt polio như thế nào? 
            Những triệu chứng ban đầu đau cơ và sốt có thể mất đi, không có thuốc điều trị đặc hiệu. Máy thở có thể trợ giúp bệnh nhân có khó thở. Vật lý trị liệu, phẫu thuật chỉnh hình và nẹp có thể giúp làm giảm bớt hậu quả của bệnh.
 
            4.6 Phòng bệnh bại liệt polio như thế nào?
            Phòng bệnh bại liệt polio bằng uống vắc xin bại liệt (OPV) hoặc vắc xin bại liệt bất hoạt theo đường tiêm (IPV).
            Vắc xin bại liệt tiêm là vắc xin có hiệu lực cao. Nhưng vắc xin bại liệt uống là vắc xin rẻ tiền, an toàn và dễ sử dụng cho cán bộ y tế và người tình nguyện nên được khuyến nghị sử dụng trong tiêm chủng thường xuyên và tiêm chủng chiến dịch để thanh toán bệnh bại liệt polio.
 
            4.7 Mục tiêu và chiến lược thanh toán bệnh bại liệt là gì?
            Năm 1988, cuộc họp Đại Hội Đồng của Tổ chức Y tế Thế giới lần thứ 41 đã đưa ra sáng kiến toàn cầu về thanh toán bại liệt.Có 4 chiến lược cơ bản để ngăn chặn sự lưu hành vi rút bại liệt hoang dại và đảm bảo thanh toán bệnh bại liệt toàn cầu vào cuối năm 2005:

·        Đạt tỉ lệ uống 3 liều vắc xin bại liệt cho trẻ dưới 1 tuổi cao;

·        Cho tất cả trẻ dưới 5 tuổi uống bổ sung vắc xin bại liệt trong những ngày tiêm chủng toàn quốc (NIDs);

·        Giám sát vi rút bại liệt hoang dại qua báo cáo và xét nghiệm tất cả các trường hợp liệt mềm cấp (LMC) của trẻ dưới 15 tuổi;

·        Tổ chức chiến dịch vét khi vi rút bại liệt hoang dại được giới hạn trong một vùng cụ thể.

Trong 15 năm từ khi sáng kiến toàn cầu về thanh toán bại liệt được đưa ra, số trường hợp mắc đã giảm trên 99%, ước tính giảm từ 350.000 trường hợp trong năm 1988 chỉ còn 1919 trường hợp trong năm 2002. Số nước có bại liệt polio từ hơn 125 nước năm 1988 chỉ còn 7 nước trong năm 2002.


            5. BỆNH UỐN VÁN
            5.1 Bệnh uốn ván là gì?
            Bệnh uốn ván là bệnh do độc tố uốn ván tác động vào hệ thần kinh cơ. Sau khi người bệnh có vết thương hở tiếp xúc với nha bào uốn ván có trong đất, môi trường xung quanh. Ví dụ: vết thương bẩn hoặc cuống rốn trẻ sơ sinh bị bẩn.
Mọi lứa tuổi đều có thể bị mắc bệnh uốn ván. Bệnh có thể gặp và nguy hiểm ở trẻ sơ sinh được gọi là uốn ván sơ sinh (UVSS). Hầu hết trẻ sơ sinh mắc UVSS đều tử vong. UVSS hay gặp ở vùng nông thôn, nơi có tỉ lệ đẻ tại nhà cao, đẻ và chăm sóc rốn không đảm bảo vô trùng. Trong năm 2000, Tổ chức Y tế Thế giới ước tính có 200.000 trẻ sơ sinh tử vong vì bệnh UVSS.
 
5.2 Bệnh uốn ván lây truyền như thế nào?
            Bệnh uốn ván không lây truyền từ người sang người. Người có thể bị nhiễm uốn ván khi vết thương hoặc vết cắt bị nhiễm bẩn. Tác nhân gây bệnh thường phát triển trong vết thương sâu do đinh, dao, mảnh vụn của gỗ bẩn và động vật cắn. Người phụ nữ có thể có nguy cơ nhiễm trùng cao nếu dùng dụng cụ bị nhiễm bẩn khi sinh hoặc nạo thai. Trẻ sơ sinh có thể bị nhiễm bẩn nếu dụng cụ dùng để cắt rốn, chăm sóc rốn hoặc tay của người đỡ đẻ không sạch.
Trẻ nhỏ cũng có thể bị bệnh khi dùng các dụng cụ bẩn cắt bao qui đầu, rạch da và những thứ không sạch đắp vào các vết thương.
 
5.3 Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh là gì?
Thời gian ủ bệnh thường trong khoảng 3 đến 10 ngày nhưng cũng có thể tới 3 tuần. Thời gian ủ bệnh càng ngắn thì nguy cơ tử vong càng cao.
Ở trẻ em và người lớn cứng cơ hàm là dấu hiệu đầu tiên của bệnh uốn ván. Tiếp theo là cứng cổ, khó nuốt, co cứng cơ bụng, cơ co thắt, vã mồ hôi và sốt. Trẻ sơ sinh bị UVSS vẫn bú và khóc bình thường trong 2 ngày đầu khi sinh. Bệnh xuất hiện vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 28 sau khi sinh, trẻ không bú được và tiếp theo là co cứng và co giật, hầu hết trẻ thường tử vong.
 
5.4 Biến chứng của bệnh uốn ván là gì?
Co thắt và co giật các cơ, có thể gãy xương sống hoặc các xương khác. Rối loạn nhịp tim, hôn mê, viêm phổi và các nhiễm trùng khác có thể xảy ra. Tử vong cao ở trẻ nhỏ và người già.
 
5.5 Điều trị bệnh uốn ván?
Bệnh uốn ván ở mọi lứa tuổi cần phải điều trị cấp cứu tại bệnh viện.
 
5.6 Phòng bệnh uốn ván như thế nào?
            Để phòng bệnh UVSS, trẻ nhỏ tiêm vắc xin DPT hoặc DT và người lớn tiêm Td/UV.Để phòng bệnh UVSS cần tiêm vắc xin uốn ván cho phụ nữ có thai và nữ sinh đẻ. Tiêm vắc xin uốn ván sẽ phòng được uốn ván cho mẹ và UVSS cho con.Thực hành đẻ sạch đặc biệt quan trọng trong khi người mẹ sinh con, ngay cả khi người mẹ đã được tiêm vắc xin phòng uốn ván. Những người đã mắc uốn ván không có miễn dịch tự nhiên vì vậy cần thiết phải tiêm chủng.
 
5.7 Đẩy mạnh loại trừ uốn ván sơ sinh
WHO, UNICEF and UNFPA đặt mục tiêu loại trừ UVSS toàn cầu vào năm 2005, là giảm số mắc UVSS xuống dưới 1/1000 trẻ đẻ sống trong một năm ở tất cả các huyện. Mục tiêu này đã được xác định lại bởi một cuộc họp Đại Hội Đồng Liên hiệp quốc năm 2002. Vì vi khuẩn uốn ván luôn tồn tại trong môi trường nên việc thanh toán bệnh uốn ván là không thể thực hiện được. Việc tiêm vắc xin đạt tỉ lệ cao cần duy trì ngay cả sau khi đã đạt mục tiêu toàn cầu. Để đạt mục tiêu toàn cầu về loại trừ UVSS, các nước cần triển khai chiến lược sau:

        ·        Tăng tỷ lệ tiêm vắc xin uốn ván cho phụ nữ có thai.

        ·        Tiêm vắc xin uốn ván cho tất cả phụ nữ tuổi sinh đẻ tại vùng nguy cơ cao, triển khai qua ba vòng chiến dịch.

        ·        Đẩy mạnh thực hành đẻ sạch và chăm sóc rốn sạch.

        ·        Tăng cường giám sát và báo cáo các trường hợp UVSS, CSS.


           
            6. BỆNH LAO
            6.1 Bệnh lao là gì?
             Bệnh lao gây ra bởi vi khuẩn lao, vi khuẩn thường gây bệnh ở phổi, những phần khác của cơ thể như xương, khớp và não cũng có thể bị ảnh hưởng.Không phải tất cả những người bị nhiễm vi khuẩn lao đều bị bệnh. Người bị nhiễm lao thường không nhận thấy mình bị bệnh vì có thể không có triệu chứng. Sự nhiễm lao có thể kéo dài suốt đời và người nhiễm lao có thể không bao giờ phát bệnh. Những người bị nhiễm lao mà không phát bệnh thì không có khả năng lây cho người khác.Trong năm 2001, khoảng hai triệu người trên thế giới chết vì bệnh lao.
 
6.2 Bệnh lao lây truyền như thế nào?
            Bệnh lao lây truyền từ người này sang người khác qua đường không khí khi người mắc bệnh lao ho hoặc hắt hơi. Bệnh lao phát tán nhanh đặc biệt ở những nơi đông đúc, có khó khăn về chăm sóc y tế và nuôi dưỡng kém. Ở một vài nơi, người ta có thể bị nhiễm vi khuẩn lao từ súc vật bị bệnh do dùng sữa tươi từ gia súc bị nhiễm trùng.
Mọi lứa tuổi đều có thể bị mắc bệnh lao. Nhưng nguy cơ phát triển của bệnh lao cao ở trẻ em dưới 3 tuổi và ở người già. Những người bị nhiễm vi khuẩn lao có đáp ứng miễn dịch yếu (ví dụ như những người bị HIV/AIDS) có nguy cơ mắc bệnh lao cao hơn so với người bình thường.
 
6.3 Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh là gì?
Thời kỳ ủ bệnh thường từ 4 đến 12 tuần, nhưng cũng có thể kéo dài hàng tháng hoặc hàng năm. Sau khi bắt đầu điều trị một vài tuần người bệnh vẫn có thể gây nhiễm cho người khác.  
Những triệu chứng của bệnh lao bao gồm: mệt mỏi, sút cân, sốt và ra mồ hôi đêm. Trong thể lao phổi các triệu chứng bao gồm: ho, ho ra máu và đau ngực. Tuy nhiên ở trẻ nhỏ dấu hiệu của lao phổi chỉ là trẻ phát triển kém hoặc không tăng cân. Những dấu hiệu và triệu chứng khác tuỳ thuộc vào phần cơ thể bị xâm nhập. Ví dụ lao xương khớp có thể làm sưng đau và ảnh hưởng tới đầu gối, cột sống hoặc thận.
 
6.4 Biến chứng của bệnh là gì?
Bệnh lao có có thể biểu hiện rất nhiều thể khác nhau và đôi khi rất khó chẩn đoán. Người bị lao phổi nếu không được điều trị sẽ bị suy kiệt, tử vong đặc biệt ở những người nhiễm HIV/AIDS.
 
6.5 Điều trị bệnh lao như thế nào?
Người bị lao phải điều trị đủ một đợt, đúng phác đồ thường dùng kết hợp 2 hoặc nhiều loại thuốc chống lao kéo dài ít nhất 6 tháng, được gọi là DOTS (lịch điều trị có kiểm soát). Rất tiếc là nhiều người không dùng thuốc đủ liều hoặc không điều trị hết đợt. Số khác điều trị không hiệu quả. Điều này có thể làm tăng sự đa kháng thuốc của vi khuẩn lao và có thể vô cùng nguy hiểm nếu vi khuẩn này lây cho người khác. Khi bệnh nhân lao không hoàn thành đợt điều trị hoặc điều trị không đúng họ sẽ tiếp tục là nguồn lây nhiễm.   
 
6.6 Phòng bệnh lao như thế nào?
Tiêm vắc xin BCG cho trẻ nhỏ có thể phòng được lao màng não và các thể lao nặng khác ở trẻ dưới 5 tuổi. Vắc xin BCG không tiêm cho trẻ trên 12 tháng tuổi vì tỉ lệ bảo vệ rất khác nhau và ít chắc chắn.             7. BỆNH VIÊM GAN B
          7.1 Bệnh viêm gan B là gì ?
             Viêm gan B là bệnh gây ra bởi vi rút làm tổn thương ở gan. Người lớn mắc viêm gan B thường qua khỏi. Tuy nhiên hầu hết trẻ em bị nhiễm vi rút viêm gan B trong thời kỳ sơ sinh thường trở thành người mang trùng mãn tính. Trẻ mang vi rút nhiều năm và có thể lây truyền sang người khác. Trong năm 2000, ước tính có khoảng 5,7 triệu trường hợp mắc bệnh viêm gan B cấp tính và hơn 521.000 trường hợp tử vong do những bệnh có liên quan tới viêm gan B.
 
            7.2 Bệnh viêm gan B lây truyền như thế nào?
            Vi rút viêm gan B có trong máu và các dịch cơ thể khác. Nó thường lây truyền qua tiếp xúc với máu do:            Tiêm không an toàn hoặc bị kim đâm.

            Lây từ mẹ sang con trong quá trình sinh đẻ.

            Lây giữa các đứa trẻ trong khi tiếp xúc qua vết cắt, vết xước và vết cào.            Lây truyền trong quan hệ tình dục. 
 
             7.3 Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh là gì?
             Thời kỳ ủ bệnh trung bình 6 tuần nhưng cũng có thể kéo dài 6 tháng. Trẻ nhỏ nhiễm vi rút viêm gan B thường không có triệu chứng. Nhưng phần lớn trẻ em có thể trở thành người mang trùng mãn tính.

Người bệnh cảm thấy mệt mỏi, chán ăn, đau bụng và có biểu hiện giống như cúm. Có thể nước tiểu sẫm màu và phân bạc màu. Có thể xuất hiện vàng da, vàng mắt. Các triệu chứng có thể kéo dài vài tuần hoặc hàng tháng. Để chẩn đoán xác định cần làm xét nghiệm máu.Hầu hết các nhiễm trùng cấp tính ở người lớn đều khỏi. Những người khỏi bệnh và không mang vi rút mãn tính có miễn dịch phòng bệnh suốt đời.
 
7.4 Biến chứng của bệnh là gì?
Một tỉ lệ nhỏ nhiễm trùng cấp có thể nặng và gây tử vong. Biến chứng nguy hiểm nhất gồm viêm gan mãn, xơ gan, suy gan và ung thư gan gặp ở những người nhiễm trùng mãn tính.
 
7.5 Điều trị viêm gan B như thế nào?          
Không có thuốc điều trị đặc hiệu đối với các trường hợp cấp. Điều trị hỗ trợ là cần thiết. Trong nhiễm trùng mãn đôi khi bệnh có thể khỏi do điều trị.
 
7.6 Phòng bệnh viêm gan B như thế nào?
            Tất cả trẻ em cần được tiêm 3 liều
1. BỆNH BẠCH HẦU
1.1 Bệnh bạch hầu là gì?
Bệnh bạch hầu là một bệnh nhiễm trùng nhiễm độc do vi khuẩn bạch hầu gây ra. Trực khuẩn bạch hầu tiết ra độc tố gây tổn thương nhiều tổ chức và cơ quan của cơ thể. Có 2 thể bệnh bạch hầu hay gặp: bạch hầu họng và bạch hầu thanh quản. Ở vùng nhiệt đới có thể gặp bạch hầu mũi, mắt, da.
Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường xảy ra ở những trẻ không được tiêm chủng. Ở vùng khí hậu nhiệt đới bệnh thường gặp trong những tháng lạnh. Trong năm 2000 có khoảng 30.000 trường hợp mắc và 3000 trường hợp chết do bạch hầu đã được báo cáo trên toàn thế giới.
1.2 Bệnh bạch hầu lây truyền như thế nào?
Bệnh bạch hầu lây truyền từ người bệnh sang người lành qua đường hô hấp và tiếp xúc trực tiếp. Nó có thể gây nhiễm trùng mũi họng dẫn đến khó thở và tử vong.
1.3 Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh là gì?
Bạch hầu thể họng, triệu chứng sớm nhất là viêm họng, chán ăn và sốt nhẹ. Trong vòng 2-3 ngày giả mạc trắng có màu ngà ở trong họng và lưỡi. Giả mạc bạch hầu có đặc điểm là dai, dính và dễ chảy máu nếu bóc giả mạc. Nếu có chảy máu, giả mạc có thể màu xám hoặc đen. Bệnh nhân có thể qua khỏi hoặc trở nên trầm trọng và tử vong trong vòng 6 – 10 ngày. Bệnh nặng không có biểu hiện sốt cao nhưng có thể sưng cổ và làm hẹp đường thở.
1.4 Biến chứng của bệnh là gì?
Trong giai đoạn sớm của bệnh hoặc những tuần sau đó, bệnh nhân có thể bị rối loạn nhịp tim có thể gây suy tim. Một vài bệnh nhân bị viêm cơ tim và van tim sau nhiều năm bị bệnh tim mãn và suy tim. Biến chứng nguy hiểm nhất của bạch hầu là tắc nghẽn đường hô hấp và gây tử vong.
1.5 Điều trị bệnh bạch hầu như thế nào?  
Những trường hợp nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu cần tiêm huyết thanh kháng độc tố bạch hầu và dùng kháng sinh như erythromycin hoặc penicillin và cần cách ly tránh lan truyền bệnh sang người khác. Cần nuôi cấy dịch họng để chẩn đoán. Bệnh nhân sẽ không còn khả năng lây lan sau 2 ngày điều trị kháng sinh thích hợp.
Để chẩn đoán xác định cần nuôi cấy bệnh phẩm từ họng của các trường hợp nghi ngờ. Tuy nhiên, cần bắt đầu điều trị ngay mà không đợi kết quả nuôi cấy.
1.6 Phòng bệnh bạch hầu như thế nào?
Cách hiệu quả nhất để phòng bệnh bạch hầu là duy trì tỷ lệ tiêm chủng cao trong cộng đồng. Ở hầu hết các nước, vắc xin giải độc tố bạch hầu được tiêm cùng với vắc xin ho gà và giải độc tố uốn ván ( vắc xin BH – HG - UV). Gần đây một số nước đã sử dụng vắc xin phối hợp gồm vắc xin bạch hầu, uốn ván, ho gà, viêm gan B và đôi khi cả vắc xin Hib.
Sau mỗi khoảng thời gian 10 năm, cần tiêm nhắc lại vắc xin loại dùng cho người lớn là giải độc tố uốn ván - bạch hầu (Td) để duy trì khả năng miễn dịch.

           2. BỆNH SỞI
           2.1 Bệnh sởi là gì?
           Bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm dễ lây do vi rút gây ra. Trong năm 2001, ước tính khoảng 30 triệu trường hợp mắc sởi trên thế giới và 745.000 trường hợp tử vong có liên quan tới bệnh sởi. Bệnh sởi gây tử vong cao hơn so với các bệnh khác trong chương trình TCMR.
           Là bệnh rất dễ lây có xu hướng xảy ra dịch và là nguyên nhân của nhiều trường hợp tử vong đặc biệt ở trẻ suy dinh dưỡng.
2.2 Bệnh sởi lây truyền như thế nào?
           Bệnh sởi lây truyền qua đường hô hấp trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua những giọt nhỏ nước bọt do người bệnh thải ra khi ho hoặc hắt hơi. Người bệnh có thể lây cho người khác trước và sau vài ngày xuất hiện triệu chứng của bệnh. Bệnh rất dễ lây truyền ở những nơi tập trung nhiều trẻ em. Ví dụ ở các cơ sở y tế và trường học.
2.3 Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh là gì?
Biểu hiện đầu tiên là sốt cao, xuất hiện vào khoảng ngày 10-12 sau khi tiếp xúc với người bệnh và kéo dài vài ngày. Trong giai đoạn này có thể chảy nước mũi, ho, mắt đỏ, chảy nước mắt và xuất hiện những nốt trắng nhỏ bên trong má (nốt Koplick).
Sau vài ngày xuất hiện ban nhỏ, bắt đầu từ mặt, phía trên cổ. Trong thời gian khoảng 3 ngày, ban lan xuống thân thể, sau đó tới tay và chân. Ban kéo dài 5-6 ngày rồi bay dần để lại những vết thâm. Giai đoạn ủ bệnh từ khi tiếp xúc với người bệnh cho đến khi xuất hiện ban trung bình khoảng 14 ngày, dao động trong khoảng 7 đến 18 ngày.
2.4 Biến chứng của bệnh là gì?
Trẻ dưới 5 tuổi đặc biệt là trẻ nhỏ nếu không tiêm vắc xin sởi rất dễ mắc bệnh sởi và có nhiều biến chứng. Trẻ mắc sởi có thể bị tiêu chảy mất nước nặng, viêm tai giữa và nhiễm trùng đường hô hấp nặng và có thể tử vong.Viêm phổi là nguyên nhân thông thường nhất gây tử vong liên quan tới sởi. Điều này thường xảy ra vì vi rút sởi làm suy yếu hệ miễn dịch. Viêm phổi có thể do chính vi rút sởi hoặc do các vi khuẩn bội nhiễm. Viêm não là một biến chứng nguy hiểm.

Sởi nặng thường gặp ở trẻ nuôi dưỡng kém, nhất là ở trẻ không được uống Vitamin A hoặc sống trong điều kiện đông đúc và có hệ miễn dịch giảm do AIDS hoặc các bệnh khác. Sởi là nguyên nhân chính gây mù ở trẻ em Châu Phi và các nơi khác trên thế giới nơi có bệnh sởi lưu hành.Sau khi khỏi, người bệnh thường có miễn dịch đặc hiệu suốt đời.
2.5 Điều trị bệnh sởi như thế nào?
Tăng cường dinh dưỡng và điều trị mất nước bằng đường uống là cần thiết. Kháng sinh chỉ cần thiết đối với nhiễm trùng tai và nhiễm trùng đường hô hấp. Điều quan trọng trong bệnh sởi là tăng cường ăn khi mắc sởi và giữ vệ sinh cho trẻ.Tất cả trẻ em ở các nước đang phát triển cần được uống hai liều Vitamin A bổ xung cách nhau 24 giờ. Uống Vitamin A có thể giúp trẻ tránh được mù lòa. Bổ xung Vitamin A có thể làm giảm 50% số chết do sởi.


          
           2.6 Phòng bệnh sởi như thế nào?
           Để phòng bệnh sởi cần tiêm vắc xin sởi. Bệnh sởi lây truyền rất cao; hầu hết trẻ không tiêm chủng nếu tiếp xúc đều bị mắc sởi. Để giảm lây nhiễm trong bệnh viện, tất cả trẻ em từ 6 tháng đến 9 tháng tuổi chưa được tiêm vắc xin sởi nằm viện đều phải tiêm vắc xin sởi. Nếu bố mẹ trẻ không nhớ rõ trẻ đã tiêm sởi hay chưa, trẻ cũng cần được tiêm vắc xin sởi. Nếu trẻ tiêm vắc xin sởi trước 9 tháng tuổi thì cần tiêm liều thứ hai khi trẻ 9 tháng tuổi hoặc ngay sau đó. 
           2.7 Khống chế bệnh sởi toàn cầu
           Tháng 5 năm 2003, Cuộc họp Hội đồng Tổ chức Y tế Thế giới lần thứ 56 ra nghị quyết giảm số chết do sởi 50% vào năm 2005 so với năm 1999.           Các chiến lược được khuyến nghị để giảm số chết do sởi gồm:

·        Tiêm liều đầu tiên vắc xin sởi cho trẻ lúc 9 tháng tuổi hoặc sau đó càng sớm càng tốt trong tiêm chủng thường xuyên. Đây là nền tảng của việc duy trì chiến lược giảm tỷ lệ chết do sởi.

·        Tất cả trẻ em cần tiêm liều thứ hai vắc xin sởi. Điều này sẽ đảm bảo khả năng miễn dịch của những trẻ chưa được tiêm cũng như những trẻ có đáp ứng miễn dịch kém với liều tiêm trước. Mũi sởi thứ hai có thể tiêm trong buổi tiêm chủng thường xuyên hoặc trong chiến dịch.

·     Tăng cường giám sát sởi qua việc lồng ghép với những thông tin dịch tễ học và xét nghiệm.             
              3. BỆNH HO GÀ 
              3.1 Bệnh Ho gà là gì?
              Bệnh ho gà là một bệnh lây truyền đường hô hấp do vi khuẩn có trong miệng, mũi và họng gây ra. Trẻ mắc bệnh này thường ho kéo dài 4 đến 8 tuần. Bệnh đặc biệt nguy hiểm ở trẻ dưới 1 tuổi. Trong năm 2000 ước tính khoảng 39 triệu trường hợp mắc và 297.0000 trường hợp tử vong trên thế giới do ho gà.
3.2 Bệnh ho gà lây truyền như thế nào?
Bệnh lây truyền rất dễ dàng qua đường hô hấp trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua những giọt nhỏ nước bọt do người bệnh thải ra khi ho hoặc hắt hơi. Hầu hết những người tiếp xúc với tác nhân gây bệnh đều bị nhiễm. Ở nhiều nước dịch có chu kỳ từ 3 - 5 năm.
3.3 Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh là gì?
Giai đoạn ủ bệnh từ 5 đến 10 ngày. Lúc đầu trẻ có biểu hiện: ho, chảy nước mũi, nước mắt, hắt hơi, sốt và ho nhẹ. Ho ngày càng nặng, cơn dài và dày hơn. Giai đoạn cuối trẻ thở vào nghe như có tiếng rít. Trẻ có thể bị tím tái do thiếu ô-xy trong cơn ho. Nôn và kiệt sức thường đi kèm theo sau các cơn ho, đặc biệt vào ban đêm.
  Trong giai đoạn hồi phục cơn ho ít dần đi. Thông thường sốt không cao trong suốt thời gian bệnh tiến triển.
 
  3.4 Biến chứng của bệnh là gì?
              Biến chứng thường gặp ở trẻ nhỏ. Viêm phổi là biến chứng thường gặp nhất và dễ gây tử vong. Trẻ có thể bị co giật do sốt hoặc giảm ô-xy cung cấp cho não, việc giảm ô-xy não là do cơn ho hoặc do độc tố của vi khuẩn. Các biến chứng nhẹ hơn là chán ăn, viêm tai giữa và mất nước.
 
  3.5 Điều trị bệnh ho gà như thế nào?
              Điều trị kháng sinh, thông thường là erythromycin có thể làm cho bệnh đỡ nặng hơn. Vì kháng sinh sẽ diệt vi khuẩn ở mũi và họng, nên cũng giảm khả năng lây truyền bệnh sang người khác.  Cần bù dịch để phòng mất nước.3.6 Phòng bệnh ho gà như thế nào?
Tiêm vắc xin ho gà, thường là dạng kết hợp với vắc xin bạch hầu và uốn ván (DPT). Gần đây, một số nước sử dụng vắc xin phối hợp gồm bạch hầu, uốn ván, ho gà, viêm gan B và đôi khi cả Hib nữa.
           
             4. BỆNH BẠI LIỆT POLIO
             4.1 Bệnh bại liệt polio là gì? 
             Là bệnh do vi rút polio gây ra bởi 1 trong 3 vi rút týp 1, 2 hoặc 3. Năm 1988 tổ chức Y tế thế giới đưa ra mục tiêu thanh toán bệnh bại liệt polio, trên phạm vi toàn cầu vào năm 2005. Số trường hợp bại liệt polio báo cáo giảm ước tính từ 350.000 năm 1988 còn 483 trường hợp có liên quan tới vi rút bại liệt hoang dại trong năm 2001. Khu vực Tây Thái Bình Dương (trong đó có Việt Nam) đã thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000.
 
4.2 Bệnh bại liệt polio lây truyền như thế nào?
            Chỉ có một đường lây truyền vi rút polio là qua đường tiêu hóa (phân/miệng). Vi rút vào cơ thể qua thực phẩm hoặc uống nước mang mầm bệnh. Vi rút nhân lên ở ruột, vào máu và có thể xâm nhập và làm tổn thương hoặc phá huỷ tế bào thần kinh tuỷ xám. Vi rút polio lưu hành mạnh ở những vùng vệ sinh môi trường kém.
Bệnh rất dễ lây. Hầu hết trẻ em sống cùng nhà với người mang mầm bệnh bị nhiễm vi rút. Ở người bệnh có khả năng đào thải vi rút từ 10 ngày trước và 10 ngày sau khi triệu chứng đầu tiên của bệnh. Những người lành mang vi rút cũng có thể trở thành nguồn truyền bệnh. Thời gian ủ bệnh từ 6 đến 20 ngày.
 
4.3 Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh là gì?
            Đa số trường hợp trẻ nhiễm vi rút polio không có biểu hiện lâm sàng nhưng để lại miễn dịch đặc hiệu suốt đời. Còn khoảng 5% số trường hợp có biểu hiện giống cảm cúm như: sốt, ỉa lỏng, nhức đầu, đau họng… Cùng với sốt bệnh nhi thường đau ở các chi sắp bị liệt và xuất hiện liệt mềm trong những ngày cuối của tuần đầu tiên. Một số trường hợp có thể liệt cơ hô hấp (liệt thể largdry) gây suy hô hấp và có thể tử vong. Những trường hợp qua khỏi để lại di chứng liệt suốt đời.
            Xét nghiệm phân (phân lập vi rút polio) để chẩn đoán xác định là cần thiết.
           
            4.4 Biến chứng của bệnh là gì? 
            Tử vong có thể xảy ra nếu bị liệt cơ hô hấp và không có máy thở hỗ trợ. Di chứng do liệt không hồi phục suốt đời thường gặp ở những trường hợp không được điều trị hợp lý.
 
            4.5 Điều trị bệnh bại liệt polio như thế nào? 
            Những triệu chứng ban đầu đau cơ và sốt có thể mất đi, không có thuốc điều trị đặc hiệu. Máy thở có thể trợ giúp bệnh nhân có khó thở. Vật lý trị liệu, phẫu thuật chỉnh hình và nẹp có thể giúp làm giảm bớt hậu quả của bệnh.
 
            4.6 Phòng bệnh bại liệt polio như thế nào?
            Phòng bệnh bại liệt polio bằng uống vắc xin bại liệt (OPV) hoặc vắc xin bại liệt bất hoạt theo đường tiêm (IPV).
            Vắc xin bại liệt tiêm là vắc xin có hiệu lực cao. Nhưng vắc xin bại liệt uống là vắc xin rẻ tiền, an toàn và dễ sử dụng cho cán bộ y tế và người tình nguyện nên được khuyến nghị sử dụng trong tiêm chủng thường xuyên và tiêm chủng chiến dịch để thanh toán bệnh bại liệt polio.
 
            4.7 Mục tiêu và chiến lược thanh toán bệnh bại liệt là gì?
            Năm 1988, cuộc họp Đại Hội Đồng của Tổ chức Y tế Thế giới lần thứ 41 đã đưa ra sáng kiến toàn cầu về thanh toán bại liệt.Có 4 chiến lược cơ bản để ngăn chặn sự lưu hành vi rút bại liệt hoang dại và đảm bảo thanh toán bệnh bại liệt toàn cầu vào cuối năm 2005:

·        Đạt tỉ lệ uống 3 liều vắc xin bại liệt cho trẻ dưới 1 tuổi cao;

·        Cho tất cả trẻ dưới 5 tuổi uống bổ sung vắc xin bại liệt trong những ngày tiêm chủng toàn quốc (NIDs);

·        Giám sát vi rút bại liệt hoang dại qua báo cáo và xét nghiệm tất cả các trường hợp liệt mềm cấp (LMC) của trẻ dưới 15 tuổi;

·        Tổ chức chiến dịch vét khi vi rút bại liệt hoang dại được giới hạn trong một vùng cụ thể.

Trong 15 năm từ khi sáng kiến toàn cầu về thanh toán bại liệt được đưa ra, số trường hợp mắc đã giảm trên 99%, ước tính giảm từ 350.000 trường hợp trong năm 1988 chỉ còn 1919 trường hợp trong năm 2002. Số nước có bại liệt polio từ hơn 125 nước năm 1988 chỉ còn 7 nước trong năm 2002.


            5. BỆNH UỐN VÁN
            5.1 Bệnh uốn ván là gì?
            Bệnh uốn ván là bệnh do độc tố uốn ván tác động vào hệ thần kinh cơ. Sau khi người bệnh có vết thương hở tiếp xúc với nha bào uốn ván có trong đất, môi trường xung quanh. Ví dụ: vết thương bẩn hoặc cuống rốn trẻ sơ sinh bị bẩn.
Mọi lứa tuổi đều có thể bị mắc bệnh uốn ván. Bệnh có thể gặp và nguy hiểm ở trẻ sơ sinh được gọi là uốn ván sơ sinh (UVSS). Hầu hết trẻ sơ sinh mắc UVSS đều tử vong. UVSS hay gặp ở vùng nông thôn, nơi có tỉ lệ đẻ tại nhà cao, đẻ và chăm sóc rốn không đảm bảo vô trùng. Trong năm 2000, Tổ chức Y tế Thế giới ước tính có 200.000 trẻ sơ sinh tử vong vì bệnh UVSS.
 
5.2 Bệnh uốn ván lây truyền như thế nào?
            Bệnh uốn ván không lây truyền từ người sang người. Người có thể bị nhiễm uốn ván khi vết thương hoặc vết cắt bị nhiễm bẩn. Tác nhân gây bệnh thường phát triển trong vết thương sâu do đinh, dao, mảnh vụn của gỗ bẩn và động vật cắn. Người phụ nữ có thể có nguy cơ nhiễm trùng cao nếu dùng dụng cụ bị nhiễm bẩn khi sinh hoặc nạo thai. Trẻ sơ sinh có thể bị nhiễm bẩn nếu dụng cụ dùng để cắt rốn, chăm sóc rốn hoặc tay của người đỡ đẻ không sạch.
Trẻ nhỏ cũng có thể bị bệnh khi dùng các dụng cụ bẩn cắt bao qui đầu, rạch da và những thứ không sạch đ


Hỗ trợ trực tuyến
dohienhaile   
0942524168 (Ms Hiền)
Thống kê
Đang online: 3
Lượt truy cập: 154844